KINH NIỆM PHẬT BA LA MẬT
![]() A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sanh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sanh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sanh khởi chẳng rời sát-na tâm sanh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát-na tâm sanh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT. Q: Nhất tâm niệm Phật được lợi ích gì? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Diệu-Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân nào, đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT,suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được Y báo, và Chánh báo của Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ-đẳng Tam-muội của đức A-Di-Đà được Phật tiếp dẫn về Tịnh-độ Tây-phương. Vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn luân hồi sanh tử. Đó gọi là quả vị Bất-thối-chuyển. Từ lúc ấy nhẫn nại về sau, vượt qua Thập-địa, chứng Vô-thượng-giác. Q: Do đâu có cảnh giới địa ngục, làm sao để sanh về cõi Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt cư sĩ, nay ta dùng cặp mắt toàn giác để quan sát Tâm hiện tiền của chúng sanh, thì thấy rõ bản chất của cái Tâm ấy gọi là Tâm-thể. Tâm thể ấy vốn không có hình dáng, tướng mạo, không có sắc chất, không dài, không ngắn, không quá khứ, không hiện tại, không vị lai, không dữ, không lành, không sanh, không diệt, cũng chẳng phi sanh diệt. Tâm-thể ấy luôn luôn xa rời tất cả luận giải của thế gian. Do vì Tâm-thể nhơ bẩn mà chúng sanh mãi luân chuyển trong ba cõi, sáu đường, đời đời chịu khổ. Do vì Tâm-thể ấy trở nên thanh tịnh, mà chúng sanh được thành tựu giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, đắc quả A-la-hán ... nhẫn đến địa vị Phật Đà. Bởi duyên với các pháp ác, mà Tâm-thể ấy tạo ra cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A-tu-la nhẫn đến chìm trôi triền miên bất tận nơi những cõi khổ khắp mười phương. Bởi duyên với các pháp lành mà Tâm-thể ấy tạo ra cảnh giới Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền v.v... Lại nữa, do vọng niệm tương tục nối nhau không dứt, mà biến hiện đủ loại hình tướng, sắc thân, thọ mạng, ẩm thực, quyến thuộc, phiền não để hưởng dụng trong các cảnh giới kia. Hoặc cam chịu những quả báo khổ lạc do những nhân tố sai biệt. Đời đời như thế mãi, chưa lúc nào tạm ngừng nghỉ. Nếu chúng sanh nào đem Tâm-thể của mình mà duyên với danh hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, thì Tâm-thể của người ấy dần dần trở nên vô cấu nhiễm, dần dần phát sanh vô lượng vô biên đức tướng Như-Lai. Do vậy, tự nhiên thấy mình ở trong thế giới Cực-Lạc trang nghiêm, thù thắng. Cùng một lúc, cái niệm tưởng Nam-mô A-Di-Đà Phật sẽ phát khởi thân lượng, oai nghi, tướng hảo và quang minh của đức A-Di-Đà cùng chư vị Thánh-chúng. Q: Làm sao cảm ứng với nguyện lực của A Di Đà Phật trong khi niệm Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Pháp môn Niệm Phật chính là là chuyển biến cái Tâm-thể của chúng sanh, bằng cách không để cho Tâm-thể ấy duyên với vọng niệm, với lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, với huyễn cảnh, với trí lực, với kiến chấp, với mong cầu, với thức phân biệt v.v... Mà chỉ đem Tâm-thể ấy duyên mãi với danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật.Không bao lâu, người niệm Phật tự nhiên đi vào chỗ vắng lặng, sáng suốt, an lạc cảm ứng với nguyện lực của đức A-Di-Đà, thấy mình sanh vào cõi nước Cực-Lạc, thân mình ngồi trên tòa sen báu, nghe Phật và Bồ-Tát nói pháp, hoặc thấy Phật lấy tay xoa đảnh ... Lại nữa Diệu-Nguyệt, nếu có chúng sanh nào chí thành xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, thì uy lực bất khả tư nghị của danh hiệu khiến cho Tâm-thể thanh tịnh mà chúng sanh ấy không hề hay biết, tự nhiên chứng nhập Sơ-phần Pháp-thân, âm thầm ứng hợp với BI TRÍ TRANG NGHIÊM của Phật – nhưng chưa thể đắc Tam-minh, Lục-thông, vô lượng Đà-ra-ni, vô lượng Tam-muội, nhẫn đến chưa thể đắc Nhất-thiết Chủng-trí, chẳng thể đồng đẳng với chư Phật được mà chỉ thành tựu bước đầu tiên trên lộ trình Như-Thật-Đạo. Q: Vãng sanh tức thành Phật, do đâu biết được? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Diệu-Nguyệt cư sĩ, nên biết rằng được vãng sanh Cực-Lạc thì không bao giờ trở lại địa vị phàm phu với thân xác ngũ uẩn nữa.Do đó, mới gọi là Bất-thối-chuyển. Từ đó về sau, dần dần thành tựu mười thứ Trí-lực, mười tám pháp Bất-cộng, năm nhãn, sáu thông, vô lượng Đà-ra-ni, vô số Tam-muội, thần thông du hí, biện tài vô ngại ... đầy đủ bao nhiêu công đức vô lậu của Đại Bồ-Tát, cho đến khi đắc quả Phật. Bởi vậy mà Ta, Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn hôm nay trân trọng xác quyết rằng: VÃNG SANH ĐỒNG Ý NGHĨA VỚI THÀNH PHẬT, VÌ VÃNG SANH TỨC LÀ THÀNH PHẬT. Q: Phải niệm Phật như thế nào mới gọi là đắc pháp? Phải dấy khởi những tâm thái nào mà tu tập mới được vãng sanh Cực-Lạc?” A: Đức Phật dạy rằng: "Nầy Diệu-Nguyệt cư sĩ, thế nòa là niệm Phật Chân Chánh ? Muốn niệm Phật đúng pháp và tự biết mình chắc chắn vãng sanh, thì người niệm Phật phải phát khởi Mười Thứ Tâm Thù Thắng sau đây: 1. Tín Tâm 2. Thâm Trọng Tâm 3. Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm 4. Xả Ly Tâm 5. An Ổn Tâm 6. Đà Ra Ni Tâm 7. Hộ Giới Tâm 8. Ba La Mật Tâm 9. Bình Đẳng Tâm 10. Phổ Hiền Tâm Q: Thế nào gọi là Tín Tâm trong pháp môn niệm Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: "Nầy Diệu-Nguyệt, Tín Tâm nghĩa là lòng tin chân thật, tha thiết, bền vững. Là nhân tố quyết định thành Phật, là nhân tố quyết định thâm nhập cảnh giới Đại-thừa. Bởi vì sao ? Vì lòng tin là mẹ đẻ của tất cả công đức vô lậu, lòng tin là cửa ngõ nhiệm mầu đưa chúng sanh về nơi kho báu Phật Pháp. Cho nên, việc trưởng dưỡng Tín Căn vẫn là điều thiết yếu nhất trong hết thảy mọi môn tu. Trước hết là phải đặt trọn lòng tin chân thật vào Lý Nhân Quả một cách sâu chắc, kiên cố, và không hề nảy sanh một ý tưởng hoặc một hành vi trái ngược với Lý Nhân Quả. Phải thấy hoạt dụng của Lý Nhân Quả dung thông ba đời, đó là Quá khứ, Hiện tại, Vị lai, rõ ràng như những đường chỉ, dọc ngang trên lòng bàn tay. Tin rằng kiếp sống thế gian là Vô-thường, mạng người ngắn ngủi như hơi thở ra vào, tất cả các pháp hữu vi đều là huyễn hóa, không có chủ tể, niệm niệm sanh diệt không ngừng, từng sát-na biến hoại chẳng nghỉ, tất cả đều đưa tới khổ não, vô minh và trói buộc. Tin rằng sáu nẻo luân hồi thật là nguy hiểm chướng nạn, sơ sẩy chỉ trong ý niệm cũng đủ đưa chúng sanh trầm luân cả nghìn muôn ức kiếp. Một lần sa lạc vào ba đường dữ thì không biết đến lúc nào mới thoát khỏi. Tin rằng Phật Pháp chính là đạo giải thoát an vui, đạo của Trí-Tuệ, đạo của Từ-Bi, đạo diệt khổ, đạo cứu vớt chúng sanh chẳng chừa một hạng loại nào cả, đạo của Phật Tri Kiến, có đủ phương thuốc nhiệm mầu trừ diệt tất cả các thứ bịnh tật của chúng sanh. Tin rằng Tam-Bảo là chỗ về nương của muôn loài, là ngọn đèn phá tan mọi hắc ám, là con thuyền đưa chúng sanh qua thấu bờ bên kia. Tin rằng tất cả các pháp đều do Tâm-thể của mình tạo ra. Từ ba đời mười phương chư Phật nhẫn đến tứ thánh, lục phàm, đều do cái Tâm-thể lưu xuất và biến hiện. Tin rằng cõi Cực-Lạc cũng chỉ do Tâm-thể thanh tịnh của chúng sanh tạo ra, cùng tương ứng với Bổn Nguyện Vĩ Đại của Phật, Bồ-Tát, Thánh-chúng. Và tinh rằng đức A-Di-Đà chỉ là do sự niệm tưởng danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật phát khởi lên. Tin rằng mỗi mỗi chúng sanh đều có đủ năng lực lãnh thọ giáo pháp Như-Lai, bất cứ hữu tình nào cũng có năng lực hoàn thành địa vị Nhứt-thiết Chủng-trí như chư Phật. Tin rằng bản nguyện của Phật A-Di-Đà là chân thật, rốt ráo, là tối thắng. Và Ngài không hề bỏ sót một chúng sanh nào cả, dù kẻ ấy phạm vào ngũ nghịch, thập ác v.v... Tin rằng pháp niệm Phật vãng sanh là môn tu duy nhất cho hết thảy mọi người, vì rời môn tu này thì mọi người, mọi loài không thể giải thoát, nếu phế bỏ môn tu này thì chư Phật cũng không thể dùng một pháp nào khác để tế độ hết thảy hữu tình đúng như bản thệ, đúng như bản nguyện. Diệu-Nguyệt phải phát khởi tín tâm như vậy mà niệm Phật. Q: Thế nào gọi Là Thâm Trọng Tâm trong pháp môn niệm Phật ? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, Thâm Trọng Tâm nghĩa là đem tấm lòng sâu xa và cẩn trọng mà cảm mộ ân đức của Tam-Bảo, tưởng nhớ công lao của cha mẹ, thiện-tri-thức và của hết thảy chúng sanh. Trong quá khứ vô lượng vô biên na-do-tha vi trần kiếp, chư Phật vì thương xót chúng sanh mà xả bỏ đầu, mắt, tay, chân, thân mạng, tài sản, quyến thuộc ... để tìm cầu Chánh pháp, tu Bồ-tát-đạo, giáo hóa muôn loài, làm cho ai nấy đều được lợi ích. Đời đời kiếp kiếp, chư Phật hằng theo dõi và thương tưởng đến mỗi một chúng sanh, luôn luôn tìm cách nhổ bật gốc rễ tham ái, đập tan gômg cùm sanh tử, làm khô cạn biển khổ vô minh, mãi phát tâm quảng đại, tâm kim cang, tâm vô phân biệt mà rọi sáng lối về cho mọi hữu tình. Vì thế mà người niệm Phật phải phát khởi cái tâm chí sâu xa và cẩn trọng để tưởng niệm, cảm mộ ân đức ấy. Nhưng chư Phật muốn tế độ tất cả chúng sanh, thì cũng phải lấy Chánh pháp làm phương thuốc hữu hiệu trị dứt những bịnh tham ái, dùng Chánh pháp làm thuyền bè đưa chúng sanh qua đến bờ giác ngộ, dùng Chánh pháp làm tuệ kiếm chặt đứt mọi trăng trói phiền não, làm ngọn đuốc dẫn dắt ra khỏi đêm dài vô minh, làm chất đề hồ chữa lành mọi thứ sanh, già, bịnh, chết, ưu, bi, khổ, não, dùng Chánh pháp làm đôi mắt cho chúng sanh nhìn rõ Thật Tướng. Người niệm Phật phải biết cảm mộ ân đức cao dày của Chánh Pháp, phải luôn luôn báo đáp ân đức ấy bằng cách đọc tụng kinh điển Đại-thừa và giảng nói cho kẻ khác, khuyên bảo mọi người quy y, bố thí, trì giới, thiền định. Khiến sao cho Chánh pháp được lưu hành rộng khắp nhân gian, ai nấy đều được hưởng dụng cam lồ vị. Dù đã phát nguyện quy y Tam-Bảo, nhưng người trực tiếp khai sanh tánh mạng tuệ giác ở nơi ta, chính là thiện-tri-thưcù, gồm có Thánh tăng, phàm tăng, Sư trưởng và các bạn đồng tu, đồng học. Thiện-tri-thức là cửa ngõ xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì làm cho chúng sanh đi vào Như-Thật-Đạo. Thiện-tri-thức là cỗ xe xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì đưa tất cả chúng sanh tới Như-Lai địa. Thiện-tri-thức là thuyền bè xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì vận chuyển tất cả chúng sanh đến bờ giác. Thiện-tri-thức là ngọn đèn xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì khiến chúng sanh có được ánh sáng Phật Tri Kiến. Thiện-tri-thức là con đường xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì dẫn dắt chúng sanh vào cửa thành Niết-bàn. Thiện-tri-thức là cây đuốc xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì làm cho chúng sanh thấy rõ con đường yên lành hay hiểm trở. Thiện-tri-thức là chiếc cầu xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì tiễn đưa chúng sanh qua khỏi chỗ hiểm ác. Thiện-tri-thức là lọng che xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì làm cho chúng sanh che núp dưới bóng râm đại từ mát mẻ. Thiện-tri-thức là cặp mắt xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì khiến chúng sanh nhận rõ Pháp tánh. Thiện-tri-thức là thủy triều xu hướng Nhứt-thiết-trí, vì làm cho chúng sanh đầy đủ nước Đại Bi. Kế đó, là ân đức của cha mẹ, chín tháng cưu mang, nhường khổ nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, quần áo chăn màn, nuôi con khôn lớn, suốt đời tận tụy, đến chết chưa nguôi. Và cuối cùng là ân đức của chúng sanh, cung ứng ẩm thực, y dược, tọa cụ, văn tự, tri kiến, bảo hộ ... Do vậy, người niệm Phật phải lấy tâm chí sâu xa, cẩn trọng mà cảm mộ ân đức thiện-tri-thức, cha mẹ, chúng sanh v.v... Nhờ vậy mà từ bi dần dần nẩy nở, ngọn lửa trí tuệ từ từ bừng cháy, môn tu niệm Phật mới dễ dàng thành tựu. Q: Thế Nào gọi là Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm trong pháp môn niệm Phật ? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm nghĩa là dấy động cái tâm chí như thế nầy: Không riêng gì bản thân mà cấu xuất ly Ta-bà loạn trược, khổ não. Trái lại, phải nguyện vì hết thảy chúng sanh khắp ba cõi sáu đường mà cầu vãng sanh Cực-Lạc, chóng thành tựu Phật đạo để tế độ quần mê. Tại sao vậy ? Vì muốn có cái quả đức siêu việt tối thượng thì phải phát khởi cái tâm chí quảng đại, dũng mãnh. Người Niệm Phật nếu đem cái tâm thái hời hợt, hẹp hòi, yếu hèn, chỉ riêng vì giải thoát bản thân, thì chẳng bao lâu sẽ chiêu cảm cái quả báo nhỏ bé, nông cạn, tầm thường, không xứng hợp với Bản-hoài chư Phật, chẳng tương ứng cùng Bản-nguyện vĩ đại Bi Trí Viên Mãn của Phật A-Di-Đà. Cho nên khó được tiếp dẫn về nơi cõi nước Tây-phương. Lại nữa, người Niệm Phật còn phải đem tất cả công đức thực hành Sáu Ba-la-mật, Bốn Nhiếp-pháp, Bốn Vô-lượng-tâm hoặc Ba mươi bảy Phẩm-trợ-đạo ... mà hồi hướng khắp anh em, cha mẹ, bằng hữu, chư thiên, chư tiên, bốn loại chúng sanh kẻ oán người thân đều được an trụ trong hồng danh Nam-mô A-Di-Đà Phật. Q: Thế nào gọi là Xả Ly Tâm trong pháp môn niệm Phật ? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, người Niệm Phật trong khi xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, phải phát khởi cái Tâm thái lìa bỏ tất cả. Sao gọi là lìa bỏ ? Lìa bỏ nghĩa là không trụ tướng mà niệm Phật, không nắm giữ mà niệm Phật, không tương ưng mà niệm Phật, không đối đãi mà niệm Phật, không chống trái mà niệm Phật, không cầu mong mà niệm Phật, không nhiễm duyên mà niệm Phật như thế gọi là lìa bỏ. Người niệm Phật chỉ buộc tâm và ý vào danh hiệu Phật, chăm chú lắng nghe, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh. Quên cả thân, quên cả cảnh, quên cả cái ý thức tự biết Ta đang niệm Phật. Như thế mới gọi là lìa bỏ. Q: Thế nào gọi là An Ổn Tâm trong pháp môn niệm Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, người Niệm Phật trong khi xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật phải phát khởi tâm chí bất động, kiên cố, không thoát chuyển. Do đó gọi là An Ổn Tâm. Mình an trụ nơi Bồ-đề-tâm, cũng phải giúp người khác an trụ Bồ-đề-tâm, nên tâm được an ổn. Mình rốt ráo, xa rời giận hờn tranh cãi, cũng phải khiến người khác nhẫn nhục nhu hòa nên tâm được an ổn. Mình buông bỏ pháp phàm phu điên đảo, cũng phải đưa người khác tới địa vị Thánh giả siêu việt nên tâm được an ổn. Mình siêng tu thiện căn vô lậu thú thướng Niết-bàn, cũng phải khiến người khác hủy diệt hết mạng lưới hữu lậu trói buộc, nên tâm được an ổn. Mình đang sanh ra tại nhà Phật, cũng phải dẫn dắt người khác vượt thoát hố hầm dục lạc trở về bảo sở, nên tâm được an ổn. Mình thâm nhập pháp chân thật không tự tính, cũng nên giúp người khác chê chán huyễn tướng lầm mê, nên tâm được an ổn. Mình cảm ứng Trí-Tạng vô tận của Như-Lai, cũng khiến người khác thâm nhập Pháp Giới Bình Đẳng, nên tâm được an ổn. Niệm Phật với tâm thái an ổn như vậy, mới gọi là chân chính niệm Phật. Q: Thế nào gọi là Hộ Giới Tâm trong pháp môn niệm Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, người Niệm Phật phải luôn luôn an trụ nơi giới luật, và hằng phát tâm hộ trì giới luật. Ấy là: Giới chẳng bỏ Bồ-đề-tâm, chẳng quên Bồ-đề-nguyện. Giới tự nhiên xa lìa các phép học của Thanh-văn, Duyên-giác không tham đắm Niết-bàn vắng lặng mà bỏ rơi chúng sanh. Giới hân ngưỡng Đại-thừa, vui thích tu hành theo tất cả pháp học Bồ-tát-đạo. Giới đem hết thảy thiện căn hồi hướng quả vị Chánh-Đẳng-Giác, mong cầu Phật-trí, Vô-sư-trí. Giới nơi tất cả Phật pháp vô-sở-đắc. Giới chẳng dính mắc tất cả thiện sự hữu vi. Giới khiến cho diệu pháp được tồn tại lâu dài, làm cho hết thảy chúng sanh an trụ nơi Chánh Kiến. Giới khéo léo tư duy tất cả hành nghiệp chúng sanh và khiến chúng sanh trưởng dưỡng ý hướng giải thoát. Giới trang nghiêm tự tâm đồng thời trang nghiêm mười phương quốc độ của chư Phật. Giới chư căn Luật nghi, như Tỳ-kheo giới, Bồ-Tát giới, Ngũ giới tại gia v.v... Niệm Phật với tâm hộ trì các giới luật kể trên, mới được gọi là chân chánh niệm Phật. Q: Thế nào gọi là Bình Đẳng Tâm trong pháp môn niệm Phật? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Nầy Diệu-Nguyệt, người niệm Phật phải luôn luôn thực hiện tâm thái bình đẳng, không phân biệt, không ngăn ngại. Nghĩa là: Tự -tha Bình-đẳng, vì luôn mở rộng tuệ nhãn để nhận hiểu mình và người đều bình đẳng trước lực nhiếp thọ của chư Phật, chư Bồ-Tát. Chủng loại Bình-đẳng, vì thường quán sát mười phương thế giới các loại chúng sanh từ sắc thân, hình trạng, tướng mạo, tộc tánh, thọ lượng, tri kiến, ý hành, sở ý ... mà không khởi tâm phân biệt, đối đãi, ái thủ hoặc yếm hoạn. Chúng sanh giới Bình-đẳng, vì liên tục mở bày pháp giới trí trụ vô động tế, mà tự tại giữa những huyễn hóa biến dị của các loại hữu tình nơi ba cõi thế gian. Pháp giới Bình-đẳng, vì thường xuyên an trụ nơi vô tướng khép vào pháp tướng, không móng khởi tâm sợ sệt trước thời gian vô cùng, không gian vô tận. Tự tại giữa một sát na như vô lượng vô biên đại kiếp. An nhiên giữa các cực vi đầu sợi lông, cũng như du hí mười phương trần sát hằng hà sa các quốc độ. Không tánh Bình-đẳng, vì luôn luôn ức niệm mình được sản sanh từ nhà Như-Lai, được Tự Tánh Thanh Tịnh Tạng, thấy rõ nhất thiết pháp Không, đắc Hư Không Hạnh vô ngại, giải ngộ và cảm ứng Tánh Không Bình Đẳng nơi hết thảy tứ sanh cửu hữu. Phật độ Bình-đẳng, vì hằng quán tưởng các cõi Thường-Tịch-Quang, Thật-Báo Trang-Nghiêm, hoặc Phương-Tiện Hữu-Dư v.v... đều không ngăn ngại nhau, không riêng khác, tuy an lập Hoa-Tạng Thế-Giới Hải mà chẳng rời Tự Tâm, Thật Tế Trụ Địa vô phương sở, vô trụ xứ ... tùy theo tâm lượng và sở nguyện của chúng sanh mà hiển hiện. Như hoa đốm, như tiếng vang, như bọt sóng, như bóng nước, như cầu vồng, như huyễn nhân kể chuyện mộng. Tín tâm Bình-đẳng, vì tín tâm vốn khởi nguyên từ Bát-nhã đức, từ Trí-tạng quảng đại ,từ Phổ-nhãn thanh tịnh thông suốt cả ba đời, nên được thu nhiếp trong Bản-nguyện vô lượng đức, vô biên lực dụng của chư Phật. Niệm Phật với những tâm bình đẳng nêu trên, mới được gọi là chân chánh niệm Phật. Q: Thế nào gọi là Phổ Hiền Tâmtrong pháp môn niệm Phật ? A: Trong Kinh Niệm Phật Ba-la-mật Đức Phật Thích Ca nói: Phổ nghĩa là không bỏ rơi chúng sanh, Hiền nghĩa là chẳng xa cách quả vị Chánh-Đẳng-Giác. Phổ Hiền Tâm là tâm rộng lớn như hư không, luôn mong cầu độ thoát hết thảy chúng sanh. Tâm vô biên như pháp tánh luôn hân ngưỡng, thừa sự và cúng dường chư Phật. Tâm vô lượng, thọ trì tất cả Phật pháp chẳng quên mất. Tâm vô hạn vì được Phật lực hộ trì nên chẳng bỏ Bồ-đề-hạnh. Tâm thí xả hết thảy, vì sẵn sàng buông lìa tất cả sở hữu, dẫu là pháp vô sở đắc. Tâm nghĩ nhớ đạo Nhứt-thiết-trí trước hết, vì ham thích mong cầu tất cả Phật pháp. Tâm vô tận công đức trang nghiêm vì học hỏi tất cả hạnh nguyện Bồ-Tát. Tâm kiên cố như kim-cang vì tất cả bạch tịnh pháp đều chảy vào. Tâm như Tu-di sơn vì tất cả ác ngôn đều nhẫn thọ. Tâm Bát-nhã ba-la-mật cứu cánh, vì khéo quán sát tất cả pháp vô sở hữu. Tâm đại hùng, đại lực để niệm Phật bất thối chuyển. Tâm đại uy nghi vô tận công đức trang nghiêm, vì tùy thuận bản nguyện lực. Tâm vô cấu nhiễm thường thanh tịnh Phật quốc độ để thành tựu Vô-thượng Bồ-đề. Tâm tinh tấn như tượng vương khéo điều phục dã thú, để sớm viên mãn hạnh nguyện Phổ-Hiền. Người niệm Phật siêng năng trưởng dưỡng Phổ-Hiền tâm như vậy, mới được gọi là niệm Phật chân chánh, thường được chư Phật hộ niệm, hiện đời luôn thấy Phật cùng y báo trang nghiêm của cõi Cực-Lạc.
LỜI KHAI THỊ CHƯ TỔ
![]() Q: Đại sư Ấn Quang dạy Tín, Nguyện, Hạnh nghĩa lý ra sao? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Ấn Quang. Đại Sư dạy: Pháp môn Tịnh Độ trùm khắp cả ba căn, gồm thâu hàng lợi độn, là đại pháp của đức Như Lai, để mở phương tiện cho tất cả thánh phàm đều được giải thoát sanh tử, lên ngôi bất thoái ngay trong hiện đời. Với pháp mầu nhiệm đặc biệt này mà không tin, không tu, thật là đáng thương, đáng tiếc lắm thay! Pháp môn Tịnh Độ lấy Tín, Nguyện, Ha ïnh làm tông chỉ. Tín là ta phải tin cõi Sa Bà này có vô lượng sự khổ; tin cõi Cực lạc có vô lượng điều vui; tin ta là phàm phu đầy nghiệp lực, quyết không thể nương cậy vào sức mình để dứt hoặc chứng chơn, thoát sanh tử ngay trong hiện đời; tin Phật A Di Đà có lời thề nguyện rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài, cầu về nước của Ngài, khi mạng chung sẽ được Ngài tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc. Nguyện là ta nên nguyện mau ra khỏi thế giới này, nguyện sớm sanh về cõi vui Cực Lạc kia. Hạnh là ta phải chí thành khẩn thiết niệm câu Nam mô A Di Đà Phật, mỗi thời mỗi khắc đừng để tạm quên, tùy theo hoàn cảnh vội vàng gấp gáp hay trì hoãn mà lập một khóa trình, sớm tối lễ bái trì tụng trước bàn Phật. Ngoài thời khóa tụng, những khi đi đứng nằm ngồi và làm những công việc không dụng tâm, đều nên niệm Phật. Lúc ngủ nghỉ phải niệm thầm, không nên ra tiếng và chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật để dễ nhiếp tâm. Lại những khi y phục không được chỉnh tề, hoặc giặt rửa, tắm gội, cho đến lúc đi ngang qua những chỗ không sạch sẽ, cũng đều phải niệm thầm. Chí tâm niệm thầm, công đức cũng đồng như niệm ra tiếng. Trong những lúc không hợp thời, nếu niệm ra tiếng thì chẳng hợp nghi thức và có lỗi không cung kính. Không luận niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim Cang hay niệm thầm, đều phải trong tâm ghi nhớ rành rẽ rõ ràng, miệng niệm rành rẽ rõ ràng, không luyến láy âm, không nuốt chữ, miệng niệm rõ ràng, tai nghe rõ ràng. Niệm như thế thì tâm không còn dong ruỗi theo cảnh ngoài, vọng tưởng lần dứt sạch, câu niệm Phật lần thuần thục, công đức rất lớn vậy. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sinh, đồng sanh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sinh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Cầu sanh Tịnh độ là thế nào? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Thật Hiền. Đại Sư dạy: Cầu sinh Tịnh Độ là thế nào? Tu hành cõi này thì sự tiến đạo rất khó, vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng dễ. Dễ nên một đời đã có thể thấu đáo, khó nên lắm kiếp vẫn chưa chắc hoàn thành. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, ai cũng khuynh hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, đâu cũng chỉ qui. Quả thật sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào hơn pháp ấy. Có điều kinh luận đã nói, điều lành mà tính chất nhỏ thì không thể vãng sanh, cái phước mang tính chất lớn mới chắc chắn đến được. Cái phước mang tính chất lớn thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu, điều lành hàm tính chất to thì không chi bằng sự phát tâm rộng lớn. Nên nhất tâm chấp trì danh hiệu của Phật hơn cả sự bố thí đến trăm năm, nhất niệm phát tâm bồ đề rộng lớn vượt cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Lý do là vì niệm Phật vốn mong làm Phật, vậy tâm lớn không phát thì có niệm cũng không làm gì, phát tâm vốn để tu hành, vậy tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thoái chuyển, nên gieo giống bồ đề, cày bằng cái cày niệm Phật, thì trái hạt tuệ giác tự nhiên lớn lên, ngồi thuyền đại nguyện, nhập vào bể cả tịnh độ thì Tây Phương Cực Lạc quyết định vãng sanh. Nay chép ra bài kệ của Thiền Sư Linh Thoại gởi đến các hành nhân tu Tịnh Độ, hãy nghĩ suy cặn kẽ: Ngày tháng chim lồng quanh quẩn, Thên người bèo nước lênh đênh, Trăm năm tạm gởi kiếp phù sinh, Há lại mơ màng chẳng tỉnh? Đem mối trần duyên rũ sạch Đừng cho mộng cảnh linh đình. Di Đà sáu chữ ấy chân kinh Đường lối tu hành tiệp kỉnh. Chẳng luận sang, hèn, ngu, trí Không phân già, trẻ, gái, trai Có tâm làm được đấng Như Lai Lời thật lưu truyền vẫn tại. Sáu chữ Di Đà rất dễ Một lòng tưởng niệm đừng sai. Thân này thề chiếm tử kim đài Gắng giữ niệm tâm chớ trái! Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sinh, đồng sanh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sinh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Có nên đợi lúc lâm chung mới niệm Phật? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Thiên Như. Có người hỏi Đại Sư: Nghe nói, có kẻ một đời tàn ác, khi lâm chung chỉ cần niệm mười lần tôn hiệu Phật Di Đà cũng được vãng sanh. Vậy thì bây giờ tôi sống tự do, buông xả theo duyên đời, vui dục lạc, đợi đến lúc sắp chết sẽ niệm Phật, có được chăng? Đại sư trả lời: Khổ thay, khổ thay! Lời nói đó đã hại chính mình, lại gây hại cho hàng tăng, tục, nam, nữ trong đời nữa. Phải biết kẻ phàm phu nghịch ác khi lâm chung niệm Phật được là do kiếp trước có căn lành, khiến cho gặp được bậc thiện tri thức chỉ bảo mà được sự may mắn trong muôn một ấy. Trong Luận Quần Nghi có viết: Có mười việc khi lâm chung không niệm Phật được: 1. khó gặp bạn lành nên không niệm Phật được 2. vì bịnh khổ buộc thân, không rỗi rãnh để niệm Phật 3. bị trúng độc phong cứng họng, nói không ra tiếng không niệm Phật được 4. bị cuồng tâm mê loạn mất sự sáng suốt, không niệm Phật được 5. thình lình gặp tai nạn nước lửa không niệm Phật được 6. thoạt bị hùm sói thú dữ ăn thịt không niệm Phật được 7. bị hôn mê mà chết không niệm Phật được 8. bị bạn ác phá hoại lòng tin không niệm Phật được 9. thoạt chết ngay giữa chiến trường quân trận 10. từ nơi chỗ cao té xuống hoảng hốt không niệm Phật được Những việc trên đây trong đời thường có, đó là do túc nghiệp hoặc hiện nghiệp chiêu cảm bỗng nhiên xảy ra, không kịp trốn tránh. Khi gặp một việc không may, bất cập, trong 10 việc kể trên, thì làm sao mà niệm Phật được. Giả sử không bị những ác duyên như trên, thọ bịnh sơ sài mà qua đời, e cho lâm chung, khi thân tứ đại sắp ly tán, bị sự đau đớn dường dao cắt, như con cua bị rớt vào nước sôi trong lúc thống khổ bức bách, bối rối kinh hoảng ấy, đâu có rỗi rãnh để niệm Phật? Giả sử không bị bịnh mạng chung lại e duyên đời chưa dứt, niệm tục khó quên, tham sống sợ chết, tấm lòng rối loạn không yên. Thêm vào đó, việc nhà chưa phân minh, chuyện sau chưa sắp đặt, vợ chồng con cái khóc lóc kêu gọi, trăm mối lo sợ, thương sầu, như thế làm sao niệm Phật được? Giả sử lúc chưa chết thì lại bịnh khổ, đau đớn rên la, tìm thầy tìm thuốc, lo việc khẩn cầu cúng tế, tạp niệm rối ren, vị tất đã niệm Phật được? Giả sử trước khi chưa bịnh thì lại bởi sự già khổ, suy lờ lọm khọm, buồn rầu áo não, lo những việc về cái thân già yếu chưa xong, đâu có rỗi rảnh để niệm Phật? Giả sử trước khi chưa già, còn đang trẻ trung khỏe mạnh, hoặc như tâm cao vọng chưa dứt, việc thế tục còn buộc ràng, rong ruổi đông tây, suy thế này tính thế khác, nghiệp thức mơ màng, cũng không niệm Phật được. Giả sử kẻ được an nhàn thong thả, có chí tu hành nhưng nếu không nhìn thấu cảnh đời là giả mộng, thân tuy được yên, nhưng tâm còn bấn loạn, không thể buông bỏ muôn duyên, khi gặp việc đến, không thể tự chủ, theo cảnh mà điên đảo, cũng không niệm Phật được. Nhà ngươi thử xét lại, đừng nói già bịnh, trong lúc còn trẻ trung nhàn nhã, nếu có một việc đeo đẳng nơi lòng, còn không niệm Phật được thay, huống chi là đợi đến lúc lâm chung? Vậy muốn cho khi sắp chết được chánh niệm vãng sanh thì ngay bây giờ phải xét rõ việc đời là huyễn mộng, tùy duyên an phận qua ngày, không còn tham luyến, được rỗi rãnh lúc nào thì niệm Phật lúc ấy, đừng hẹn chờ lần lựa, hoặc để hư phí thời giờ. Như thế thì tư lương ta đã dự bị xong, lúc ra đi mới không điều chi chướng ngại. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sinh, đồng sanh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sinh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Niệm Phật ra tiếng, lớn nhỏ ra sao thì gọi là biết tùy duyên? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Liên Trì. Đại Sư dạy: Niệm Phật có mặc trì (niệm thầm), cao thanh trì (niệm lớn tiếng), kim cang trì (se sẽ động môi); nhưng niệm thầm (mặc trì) thì dễ hôn trầm, niệm lớn tiếng (cao thanh trì) thì mau phí sức, duy dùng pháp kim cang trì, se sẽ động môi lưỡi mà niệm, là có thể bền lâu; nhưng cũng không nên chấp chặt khư khư một cách, hoặc khi niệm theo lối kim cang trì, nếu thấy mệt thì đổi sang mặc trì, nếu hôn trầm thì đổi sang cao thanh trì để xua tan sự buồn ngủ mệt mỏi. Hành nhân tu niệm Phật cần phải biết tùy duyên mà ứng đối khéo diệu dụng. Tâm ta hôn loạn đã lâu, không thể một lúc mà an định được cho nên người niệm Phật nếu tâm chưa thanh tịnh cũng đừng quá vội lo, chỉ cần khi niệm mỗi chữ mỗi câu đều do tâm phát ra, dụng công bền lâu, tự có hiệu quả. Tạp niệm là bịnh, niệm Phật là thuốc, niệm Phật chính là để trị tạp niệm mà không thấy hiệu quả là do dụng công chưa được khẩn thiết, chân thật. Cho nên khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên lòng gia công niệm Phật hơn nữa, mỗi chữ mỗi câu tinh thuần không xao lãng thì tạp niệm sẽ dứt. Xin khuyên những người tương đối thanh nhàn, đã lớn tuổi, việc gia đình con cái đã yên ổn lo xong, nên thu xếp thời gian còn lại cho mình vì chẳng còn bao lâu nữa, mà đem hết tâm lực niệm Phật, mỗi ngày từ số ngàn đến muôn câu hiệu Phật, cầu xin quay về Tịnh Độ. Cũng xin khuyên những người còn vướng bận duyên đời nhiều ràng buộc, nhọc nhắn vì việc công, bôn ba đua chen vì gia sự, tuy ít khi rỗi rãnh nhưng mỗi buổi sớm mai cố gắng nhín ra một chút thì giờ niệm Phật chừng mười hơi, ngoài ra lúc nào rảnh, cần hết lòng hết dạ niệm xen vào trăm câu, xin sớm giải kết mối lo, gỡ thoát gông cùm ràng buộc, sống được thảnh thơi khang thái. Lành thay, lành thay! Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Thế nào là phát lòng Bồ đề? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Tĩnh Am. Đại Sư dạy: Niệm Phật mà không phát lòng Bồ Đề thì không tương ưng với bổn nguyện của đức Di Đà, ắt sẽ khó vãng sanh. Lòng bồ đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành quả Phật, dưới nguyện độ chúng sanh. Tuy phát lòng bồ đề mà không chuyên tinh niệm Phật cũng không được vãng sanh. Nên phải lấy sự phát lòng bồ đề làm cái nhân chánh, niệm Phật làm trợ duyên rồi sau mới cầu sanh Tịnh độ. Người tu Tịnh độ cần phải nắm vững điều này. Vì niệm Phật cũng có ma sự do bởi 3 nguyên nhân: 1) không rõ giáo lý, 2) không gặp thầy hiền bạn tốt, 3) không chịu tự soi xét lấy mình. Trong 3 điều này, sự tự xét chỗ sai lầm của mình rất là cần yếu. Đại để muốn sanh về cảnh Tây Phương Cực lạc, không phải dùng chút phước lành, chút công hạnh lơ là mà được; muốn thoát sự khổ sống chết luân hồi trong vạn kiếp, không phải dùng tâm dần dà, chờ hẹn, biếng lười mà được. Cơn vô thường mau chóng, mới sớm kế lại chiều, đâu nên không siêng năng lo dự bị trước ư? Còn e sức chí nguyện không thắng nổi sức tình ái, tâm niệm Phật không hơn nổi tâm dục trần, những kẻ cứ mãi lơi là biếng trễ, nửa tin nửa ngờ, thì Phật Tổ cũng đành, chẳng biết làm sao hơn! Có bài kệ rằng: Nam mô A Di Đà Người nào không biết niệm, Tuy niệm, chẳng tương ưng, Mẹ con khó hội kiến. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, Đem tâm này thúc liễm, Mỗi niệm nối tiếp nhau, Niệm lâu thành một phiến. Như thế, niệm Di Đà, Di Đà tự nhiên hiện. Quyết định sanh Tây Phương, Trọn đời không thoái chuyển. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật! Q: Tâm không vọng niệm, Tâm chí thành cầu giải thoát khi niệm Phật là như thế nào? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Ấn Quang. Đại Sư dạy những hành nhân tu pháp môn Tịnh Độ tại một đạo tràng: Các người cần nghe cho kỹ, hiểu cho sâu những lời Ta phân tích sau đây để nắm vững pháp môn Tịnh Độ. Người niệm Phật, nếu dụng công siêng năng tinh tấn thì niệm sẽ thuần thục qui nhất, được cảm thông với Phật, tự có thể thấy cảnh lành, dù không thấy cũng không e ngại, lo sợ. Nếu bỏ sự chuyên dụng công mà vội gấp, muốn được nhất tâm, muốn được tương ưng với Phật, mong được thấy cảnh lành thì vọng tưởng rối ren, tâm niệm cầu mong cố kết nơi lòng, đây là chứng bịnh lớn lao nguy hiểm của người tu hành. Như thế lâu ngày, những oan gia đời trước nương theo vọng tưởng của hành nhân, hóa làm thân Phật, hoa sen, hoặc có cảnh tốt lạ để mong báo oán. Lúc ấy tự mình đã không có chánh kiến, toàn thể là khí phần của ma, một khi thấy cảnh ấy tất sanh lòng hoan hỷ, ma nương theo đấy mà vào tâm phủ làm cho hành nhân điên cuồng, dù có Phật sống cũng không cứu được. Giữ một câu A Di Đà Phật nhặt niệm nối nhau, thường nhớ thường niệm. Khi những tâm tham lam, bỏn xẻn, hờn giận, dâm dục, háo thắng, kiêu mạn thoạt nổi lên, các ngươi phải nghĩ: Ta là người niệm Phật cầu giải thoát, không nên có những tâm niệm như vậy. Nghĩ rồi liền trừ diệt đi. Như thế, lâu lâu những niệm lao thần tổn thân đều không có nơi mà sanh khởi, sẽ được công đức không nghĩ bàn của Phật gia trì nơi thân tâm của mình, dám bảo đảm trong mười ngày thấy đại hiệu nghiệm. Nếu tu hành lôi thôi gián đoạn mà liền muốn được công hiệu, đó là khi dễ mình khi dễ người, tuy cũng có chút công đức nhưng muốn do đó mà lành bịnh mê hoặc thì quyết không thể được. Làm việc gì cũng phải lấy lòng thành làm gốc, tu hành nếu không dùng tâm chí thành, làm sao được sự lợi ích lành bịnh dứt khổ? Có một bí quyết khẩn thiết bảo nhau: Hết lòng thành kính, nhiệm mầu, nhiệm mầu; và mỗi khi làm bất cứ một việc lành gì, dù nhỏ nhặt, cũng nên chắp tay đối trước Phật, hoặc hướng về Tây, đọc bài kệ hồi hướng ngắn này: Nguyện đem công đức này, cầu bốn ân ba cõi, Con cùng với chúng sanh, đồng sanh về Cực Lạc Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Niệm Phật có 10 điều lợi ích ngay trong đời này, đó là những gì? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Thiên Như Duy Tắc. Đại Sư dạy: Người đời nay tuy dễ tinh tiến song cũng dễ thoái lui, khi nghe lời khuyên nhắc thì dõng mãnh siêng năng, lúc gặp việc gì chướng ngại lại giãi đãi thoái lui ngả theo hướng khác. Phần đông bọn họ đều nói: ' kết quả của sự niệm Phật có lẽ đợi sau khi chết rồi mới thấy, còn hiện tại chỉ thấy nhọc nhằn mệt mỏi mà chẳng thấy lợi ích thiết thật gì cả.' Thật đáng thương thay cho những kẻ nông nổi mông muội này. Trong Kinh Tịnh Độ có viết: Người naò hiện đời chí tâm thọ trì danh hiệu Phật, hiện đời sẽ được mười điều thắng lợi như sau: • Ngày đêm thường được tất cả chư Thiên, đại lực thần tướng và hằng sa quyến thuộc ẩn hình ủng hộ • Thường được 25 vị Đại Bồ Tát như đức Quán Thế Aâm và tất cả Bồ Tát theo thủ hộ bên mình • Hằng được chư Phật ngày đêm hộ niệm, đức A Di Đà thường phóng ánh sáng nhiếp thọ người ấy • Tất cả ác quỉ như Dạ xoa, la sát đều không thể làm hại. Tất cả rồng độc, rắn độc và thuốc độc đều không thể xâm phạm • Không bị những tai nạn như : nước trôi, lửa cháy, giặc oán, đao tên, gông xiềng, tù ngục, hoạch tử • Những nghiệp ác về trước lần lượt đều tiêu diệt. Những oan mạng bị đương nhân giết, nhờ công đức niệm Phật, đều được giải thoát, không còn theo báo thù phục hận nữa • Đêm nằm nghỉ yên ổn, hoặc mơ thấy điềm lành hay thấy sắc thân thắng diệu của đức Phật Di Đà • Tâm thường an vui, nhan sắc nhuận khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp • Thường được mọi người kính trọng giúp đỡ, hoặc hoan hỷ lễ bái cũng như kính Phật • Khi lâm chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện ra, được thấy Phật A Di Đà cùng các thánh chúng tay bưng đài vàng tiếp dẫn vãng sanh về Cực lạc, cùng tận kiếp vị lai hưởng thọ sự vui nhiệm mầu. Mười điều lợi ích trên chính do kim khẩu của Phật nói ra, Kinh văn chép lại. Niệm Phật đã có lợi ích trong hiện tại và tương lai như vậy, thì đó chính là pháp khẩn yếu trong các môn thế gian và xuất thế gian; cho nên người tu hành chỉ cần cố gắng tinh tấn, đừng mang tâm niệm hoài nghi ngờ vực. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Duyên đời ràng buộc, kẻ ít người nhiều. Dụng công niệm Phật làm sao cho có kết quả? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe tiếp lời khai thị của Đại Sư Thiên Như Duy Tắc. Có người thắc mắc thưa hỏi Đại Sư: Về môn niệm Phật, nhờ ơn chỉ dạy nhiều phen nên các mối nghi đã tiêu tan, và lòng chánh tín cũng đã khai phát. Nhưng trước đã nói: 'Gác qua một bên mọi việc đời, rũ sạch thân tâm,' mà người đời hoàn cảnh đều khác nhau; kẻ thì được rãnh rỗi thuận duyên thí có thể tu hành thuận tiện, nhưng có người bị trăm việc buộc ràng bức ngặt thì phải làm sao để tu tập?' Đại Sư dạy: Nếu người biết thống cảm cảnh vô thường và thiết tha vì sự giải thoát, thì dù gặp thuận duyên hay nghich duyên, khổ hay vui, động hay tịnh, gấp hay trì hoãn, hoặc khi tiếp tân đãi khách, lo việc công tư, đối xử muôn duyên, ứng thù tám mặt, cũng không ngại gì đến sự niệm Phật. Cổ nhân đã bảo: 'Non cao khó đón đường mây bạc. Trúc rậm khôn ngăn ngọn suối trong.' Lại nói: 'Mai lại A Di Đà. Chiều cũng A Di Đà. Dù gấp như tên bắn, không rời A Di Đà.' Cho nên muôn cảnh vẫn nhàn, tự mình náo động, nếu người thiết thật cầu về Cực lạc và biết cách dụng tâm thì không có duyên nào làm trở ngại được sự tu niệm cả. Tuy nhiên những kẻ năng lực yếu kém, việc đời bận nhiều, phải nên trong lúc gấp gáp cố tìm một chút thời giờ rãnh, trong cảnh động gắng giữ niệm lắng yên, rồi tùy sức niệm Phật hoặc nhiều hoặc ít. Mỗi ngày nên định khóa tu hoặc ba muôn hay một muôn câu, ba ngàn hay một ngàn câu, và giữ mức thường hằng, đừng cho gián đoạn. Nếu vị nào duyên sự quá nhiều, ít có giây phút rỗi rãnh, thì mỗi buổi sớm mai tu theo pháp Thập Niệm Hồi Hướng, cứ giữ như thế suốt đời, cũng được nhờ ơn tiếp dẫn. Người có thì giờ hay phương tiện, ngoài thời niệm Phật, hoặc trì chú tụng kinh, hoặc sám hối bố thí, tùy phần tùy lực mà tu các phước lành, dù có mảy may công đức, cũng đem hồi hướng Tây Phương. Dụng công như thế, chẵng những quyết định được vãng sanh mà cũng sẽ tăng cao thêm phẩm vị. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Thập Niệm Hồi Hướng là gì? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe tiếp lời khai thị của Đại Sư Thiên Như Duy Tắc về pháp Thập Niệm Hồi Hướng Đại Sư dạy: Niệm Phật là duyên tưởng theo 32 tướng hảo của Phật, buộc tâm vào định, làm sao cho khi mở mắt nhắm mắt thường được thấy Phật. Hoặc phương pháp nữa là chuyên xưng danh hiệu Phật, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong đời này cũng được thấy Phật. Hiện nay tôi thấy phần đông những người tu Tịnh Độ đều lấy pháp trì danh làm chính. Pháp xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau. Niệm như thế, mới có thể mỗi câu diệt được tội năng nơi đường sanh tử trong 80 ức kiếp. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ. Còn về pháp Thập Niệm, thì mỗi buổi sớm mai, hành giả phải quì trước bàn Phật, hoặc chắp tay đứng ngay thẳng hướng về phương Tây, niệm Phật liên tiếp luôn một hơi, cứ mỗi hơi kể là một niệm, mười hơi là mười niệm. Khi niệm không hạn số câu nhiều hay ít, chỉ tùy theo hơi thở dài ngắn, chuyên chú niệm luôn cho hết hơi mới thôi. Nên giữ tiếng niệm Phật cho rành rẽ, không thấp không cao, không gấp không hoãn, niệm mười hơi liên tiếp, chớ để tâm ý tán loạn. Đây là pháp mượn hơi nhiếp tâm, quí ở nơi chuyên nhất, và phải giữ như thế trọn đời, không được một ngày tạm bỏ. Về phần hồi hướng là sau khi niệm xong, dùng tâm chí thành phát nguyện rằng: 'Con là (pháp danh), phát lòng Bồ Đề, một lòng qui mạng Đức A Di Đà, nguyện về Cực Lạc. Xưa Phật lập thệ: 'Nếu chúng sanh nào muốn về nước Ta, hết lòng xưng danh cho đến mười niệm, như không được sanh, Ta không thành Phật.' Con nguyện nương nhờ từ lực của Phật, tội diệt phước sanh. Con nguyện lâm chung, biết ngày giờ trước, dứt trừ chướng ngại, Phật cùng Thánh chúng, tiếp dẫn vãng lai, mau ngộ Phật thừa, độ khắp muôn loại.' Môn Thập Niệm Hồi Hướng trên đây là phương pháp rất thiết yếu của các bậc tiên hiền, cổ đức đã chỉ dạy. Môn này rất được thịnh truyền và có lợi ích cho đời, người niệm Phật nên tuân hành. Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật Q: Thế nào là nắm chắc giữ một câu A Di Đà Phật? A: Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư Ưu Đàm Đại Sư dạy: Người tu tịnh nghiệp, nếu trần cấu chưa sạch, khi niệm ác nổi lên, phải cao tiếng niệm Phật nhiếp vào chánh niệm, chớ nên để tâm ác nối nhau. Nên biết rằng sự tu hành hôm nay, chính là đối địch với nghiệp sanh tử, không phải chuyện tầm thường; hằng ngày phải nghĩ đến vô thường mau chóng, ngày tháng chẳng chờ người, nhận chân thiệt thật mà niệm Phật. Nếu nửa lui nửa tới, lúc tin lúc ngờ, kết cuộc tịnh nghiệp không thành tựu, làm sao ra khỏi luân hồi? Giữ một câu hiệu Phật như dựa vào hòn núi Tu Di, lay chuyển không động, thường nhớ thường niệm, mai cũng niệm, chiều cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm, tâm niệm không bỏ qua, hiệu Phật chẳng rời lòng, mỗi thời mỗi khắc chẳng xa lìa, nhặt nhặt niệm niệm, như gà ấp trứng thường cho hơi ấm tiếp tục, tức gọi là 'tịnh niệm nối nhau.' Muốn sanh về Tịnh Độ nên nghĩ tất cả việc đời đều vô thường, có thành tất có hoại, có sống ắt có chết, nếu ta không được nghe Phật Pháp thì phải chịu thay thân này, đổi thân khác, trôi lăn trong ba cõi sáu đường, không biết lúc nào ra khỏi. Nay ta đã có duyên được nghe chánh pháp, được tu tịnh nghiệp, nếu chuyên tâm niệm Phật thì khi bỏ thân này sẽ vào thai sen nơi cõi Phật, hưởng các điều vui, thoát hẳn sự khổ, đi ngay đến nẻo Bồ Đề, đấy là ý chí thuở bình sanh của bậc đại trượng phu vậy. Chuyên nhất tâm ý, nắm giữ một câu A Di Đà Phật, chỉ một niệm này là bổn sư của ta, chỉ một niệm này trước là hóa Phật, chỉ một niệm này mãnh tướng phá địa ngục, chỉ một niệm này là gươm báu chém bầy tà đạo, chỉ một niệm này là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm, chỉ một niệm này là con thuyền lớn vượt qua biển khổ, chỉ một niệm này là đường tắt ra khỏi tam giới, chỉ một niệm này là thuốc hay trị bịnh sanh tử, chỉ một niệm này là bản tánh Di Đà, chỉ một niệm này là duy tâm Tịnh Độ. Chỉ cần giữ chắc câu niệm Phật đây chớ lo lạc mất, mỗi niệm thường hiện tiền,mỗi niệm chẳng rời tâm, không việc cũng niệm như thế, có việc cũng niệm như thế, an vui cũng niệm như thế, bịnh khổ cũng niệm như thế, sống cũng niệm như thế, chết cũng niệm như thế. Cứ giữ một niệm phân minh như thế, lại cần chi hỏi người tìm đường về chốn Cực lạc hay sao? Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện: Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn, chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật
ĐẠI SƯ ẤN QUANG KHAI THỊ
![]() Q: Xin cho biết những niềm tin nào nên chú trọng trong pháp môn Tịnh độ? A: Hữu tình phàm phu nghe nói pháp môn Tịnh Ðộ này thì hãy nên tin Sa Bà rất khổ, Tây Phương cực vui, phải tin rằng từ nhiều kiếp đến nay, ta nghiệp chướng sâu nặng, nếu chẳng nhờ vào Phật lực khó lòng xuất ly; phải tin hễ cầu vãng sanh thì đời này sẽ quyết định được vãng sanh, phải tin niệm Phật quyết định là được Phật từ bi nhiếp thọ. Do tin như vậy, kiên định nhất tâm nguyện lìa Sa Bà như tù nhân muốn thoát khỏi lao ngục, không hề có tâm luyến tiếc. Nguyện sanh Tây Phương như lữ khách mong trở về cố hương, há có ý niệm chần chừ. Từ đấy, tùy phận, tùy sức chí tâm trì niệm thánh hiệu A Di Ðà Phật chẳng luận là nói năng, im lặng, động, tịnh, đi, đứng, nằm, ngồi, đón khách, tiễn khách, mặc áo, ăn cơm, chăm chắm sao cho Phật chẳng rời tâm, tâm chẳng rời Phật. Q: Hãy dạy cho biết làm sao niệm Phật để có sự nhất tâm? A: Nếu niệm Phật mà tâm khó quy nhất thì nên nhiếp tâm niệm khẩn thiết sẽ tự có thể quy nhất. Cách để nhiếp tâm không có gì hơn được chí thành, khẩn thiết; tâm chẳng chí thành thì không cách chi nhiếp nổi! Nếu đã chí thành mà chưa thuần nhất thì nên thường lắng tai nghe, chẳng luận là niệm ra tiếng hay niệm thầm đều phải là niệm phát xuất từ tâm, tiếng phát xuất từ miệng, âm nhập vào tai; tâm và miệng niệm sao cho rành rẽ rõ ràng, tai nghe sao cho rành rẽ, rõ ràng. Nhiếp tâm như thế thì vọng niệm tự dứt. Q: Đã chí thành và quyết tâm nhưng vọng niệm vẫn khởi, kính xin chỉ dạy phương pháp đối trị nào? A: Nếu như sóng vọng niệm vẫn còn trào dâng thì dùng cách mười niệm nhớ số, dốc toàn bộ tâm lực vào trong từng câu Phật hiệu, tuy vọng niệm có muốn khởi cũng chẳng có sức. Ðây chính là diệu pháp rốt ráo để nhiếp tâm, càng làm thử càng thấy hiệu nghiệm. Lúc niệm Phật thì từ một câu đến mười câu sao cho niệm được phân minh, ghi nhớ phân minh. Niệm mười câu xong lại từ một câu niệm đến mười câu, chẳng được niệm đến câu thứ mười hai hay mười ba. Niệm đến đâu, nhớ đến đấy; chẳng được dùng chuỗi để nhớ mà phải dụng tâm nhớ. Nếu thấy niệm suốt mười câu là khó thì chia thành hai hơi: từ câu một đến câu năm và từ câu thứ sáu đến câu thứ mười. Nếu vẫn chẳng đủ sức thì từ câu một niệm đến câu thứ ba, từ câu thứ tư niệm đến câu thứ sáu, từ câu thứ bảy niệm đến câu thứ mười, tức là ba hơi. Niệm đến mức rõ ràng, ghi nhớ phân minh, nghe cho rõ ràng, vọng niệm không còn chỗ để bén chân thì nhất tâm bất loạn lâu ngày sẽ tự đạt được. Nhưng lúc làm lụng nếu khó nhớ số thì cứ khẩn thiết mà niệm xuông. Làm xong việc, lại nhiếp tâm nhớ số thì cái tâm lông bông, lăng xăng sẽ tụ về chuyên chú nơi nhất cảnh Phật hiệu. Q: Niệm Phật lắng nghe nơi tiếng, nương theo hơi thở là pháp môn gì? A: Nhiếp tâm niệm Phật chắc chắn chẳng phải là chuyện dễ dàng, nhưng trong các pháp nhiếp tâm thì chỉ có mỗi cách xoay trở lại nghe tiếng niệm thật là bậc nhất. Pháp môn Bảo Vương nương theo hơi thở bao gồm cả Ngũ Ðình Tâm Quán. Nếu có thể niệm Phật theo hơi thở thì là đã tu kèm cả hai pháp quán Sổ Tức và Niệm Phật. Nhiếp tâm niệm Phật thì nhiễm tâm dần dần đoạn tuyệt, lòng nóng giận ắt chẳng còn bừng bừng nữa. Một khi hôn trầm, tán loạn đã hết thì trí huệ hiển hiện, cũng phá được ngu si. Ðấy lại là pháp môn "nhiếp trọn sáu căn” của đức Ðại Thế Chí. Nay người niệm Phật lơ là thì có lẽ chẳng nên áp dụng cách này, sợ vì chẳng kể số nên sẽ trở thành lười nhác. Còn người đã cam tâm niệm Phật, nếu chẳng tuân theo pháp này thì tam muội khó thành. Nếu là bậc lợi căn thì trong một thất hay hai thất, quyết sẽ đắc Nhất Tâm; còn như kẻ tối tăm, chậm lụt, tâm tưởng yếu kém, nông cạn thì phải tám năm, mười năm mới có thể chẳng loạn! Q: Nương theo hơi thở, để tâm nơi đỉnh đầu không phải dễ vậy thay vào đó phải niệm Phật như thế nào? A: Niệm Phật bằng cách truy đảnh dễ mắc bịnh. Niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, kim cang trì hay niệm thầm tùy theo tinh thần của mình mà vận dụng cho phù hợp; chớ nên chấp chết vào một cách để đến nỗi bị bệnh ư? Niệm theo hơi thở chẳng bằng lặng lẽ lắng nghe vì nếu chẳng khéo niệm theo hơi thở sẽ bị bịnh, lặng lẽ lắng nghe chẳng bị mắc bịnh. Q: Vận dụng tâm ra sao để có được Niệm Phật Tam muội? A: Cảnh tướng của tam muội chỉ có chứng rồi mới hiểu rõ nổi. Nếu bàn đến pháp ấy thì ngay trong lúc niệm Phật, ngay mỗi niệm xoay trở lại quán sát chuyên chú vào một cảnh, chẳng rong ruổi ra ngoài cảnh, niệm niệm soi thấu nguồn tâm; tâm tâm khế hợp Phật thể. Niệm trở lại cái niệm của chính mình, quán ngược lại cái quán của mình. Vừa niệm liền quán, vừa quán liền niệm; cốt sao toàn niệm là quán, ngoài niệm không quán, ngoài quán không niệm. Tuy quán và niệm đã hòa hợp như nước với sữa nhưng chưa thấu đáo nguồn cội, cần phải hướng đến một niệm Nam Mô A Di Ðà Phật bao lượt suy xét đến tột cùng, khắng khít gạn lọc, càng suy xét càng thiết tha, càng gạn lọc càng thân thiết, cho đến lúc tận lực công thuần, đột ngột ý niệm rơi mất, chứng nhập cảnh giới "vô niệm, vô bất niệm”. Câu nói: "Linh quang độc diệu, thoát khỏi căn trần, thể lộ chơn thường, chẳng nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng niệm tức Như như Phật” đã diễn tả cảnh giới ấy. Công phu đến bực ấy thì chứng đắc pháp Niệm Phật, cảm ứng đạo giao, thật khéo ra sức. [Người ấy] hiện tại còn chưa ra khỏi Sa Bà nhưng đã thường ở sẵn trong Hải Hội. Lâm chung vượt ngay lên Thượng Phẩm, đốn chứng Phật thừa. Q: Cách nào dễ dàng nhất để có thể "Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”? A: Niệm Phật thì đừng nên dùng pháp quán tâm mà hãy dùng pháp nhiếp tâm. Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Ðại Thế Chí dạy: "Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc tam ma địa; ấy là bậc nhất”. Lúc niệm Phật, cái niệm trong tâm (ý căn) cần phải rõ ràng, phân minh, câu niệm nơi miệng (thiệt căn) phải phân minh, rõ ràng; tai (nhĩ căn) phải nghe sao cho rõ ràng, phân minh. Ba căn: tai, miệng, ý, căn nào cũng dốc hết vào câu Phật hiệu thì mắt chẳng thể lườm Ðông, nguýt Tây, mũi chẳng thể ngửi các mùi hương khác, thân chẳng thể lười biếng, giải đãi. Ðấy là "nhiếp cả sáu căn”. Nhiếp cả sáu căn thì dù chưa thể hoàn toàn hết vọng niệm nhưng so với kẻ chẳng nhiếp sáu căn thì tâm thanh tịnh hơn rất nhiều. Vì thế gọi là "tịnh niệm”. Nếu có thể giữ cho tịnh niệm thường liên tục, chẳng có lúc gián đoạn thì tâm sẽ tự có thể quy về một chỗ, cạn thì đắc Nhất Tâm, sâu thì đắc tam muội. Nếu thật có thể nhiếp cả sáu căn mà niệm thì nghiệp chướng quyết định tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, chẳng cần phải quán tâm mà tâm tự thanh tịnh, minh bạch, đâu lại đến nỗi mắc phải căn bịnh tâm hỏa nóng nảy? Quán tâm là cách tu quán căn bản của bên Giáo, chẳng thích hợp với căn cơ người niệm Phật. "Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” mới là pháp thâm diệu thích hợp với hết thảy các căn cơ: thượng, trung, hạ, hoặc thánh hoặc phàm. Cần phải biết là việc "nhiếp trọn” đó chuyên chú nơi cái nghe, tức là niệm thầm trong tâm cũng phải nghe vì trong tâm khởi niệm là đã có thanh tướng. Tự tai mình nghe tiếng của chính tâm mình, nhưng phải sao cho rành rẽ, rõ ràng, sao cho thật sự nghe được từng chữ, từng câu rõ ràng thì lục căn mới quy về một chỗ. So với tu những các pháp quán khác thì cách tu này ổn thỏa, thích đáng nhất, ít tốn sức nhất nhưng lại khế lý, khế cơ nhất. Q: Tại sao khi niệm Phật phải lấy cả thân, khẩy, ý làm chỗ dụng công? A: Tuy niệm Phật quý ở chỗ tâm niệm, nhưng chẳng thể bỏ miệng tụng vì ba thứ: thân, khẩu, ý hỗ trợ nhau. Nếu tâm có thể ức niệm, nhưng thân chẳng lễ kính, miệng chẳng trì tụng thì cũng khó được lợi ích. Vì thế, kinh Ðại Tập có dạy: "Ðại niệm thấy đại Phật, tiểu niệm thấy tiểu Phật”. Cổ đức bảo niệm Phật lớn tiếng thấy thân Phật lớn, niệm nhỏ tiếng thấy thân Phật nhỏ! Phàm phu đầy dẫy triền phược tâm lắm hôn trầm, tán loạn, nếu chẳng nhờ vào sức lễ, tụng của thân, miệng mà muốn đắc Nhất Tâm thì không có cách nào được! Q: Tín-Nguyện và Nhất tâm, bên nào khiến được vãng sanh? A: Pháp môn Niệm Phật chú trọng Tín, Nguyện. Có Tín, Nguyện thì dù chưa được Nhất Tâm vẫn được vãng sanh. Dù đắc Nhất Tâm, nhưng thiếu Tín, Nguyện thì cũng chẳng được vãng sanh! Người đời hay chú trọng vào Nhất Tâm, chẳng đặt nặng Tín, Nguyện. Ðã bỏ mất điều trọng yếu, lúc sống lại chẳng đạt Nhất Tâm, sợ rằng bị trở ngại, chẳng được vãng sanh toàn là vì trái nghịch với điều kiện: tin chơn thành, nguyện thiết tha vậy. Do vậy, càng phải tăng thêm tín nguyện để đạt Nhất Tâm thì mới là suy nghĩ đúng lối. Nếu vì chẳng đạt được Nhất Tâm nên thường cứ nghĩ mình chẳng thể vãng sanh thì sẽ thành ra ý nghĩ bại hoại. Chẳng thể chẳng biết điều này! Hỏi: Vãng sanh Tây phương chỉ cốt ở lời khai thị này, đó là lời dạy gì vậy? Đáp: Niệm Phật cốt yếu là để thoát sanh tử, mà đã vì sanh tử thì nên tự sanh tâm nhàm chán nỗi khổ sanh tử, tự sanh tâm ưa thích sự vui nơi Tây Phương. Có như thế thì hai pháp Tín và Nguyện thường được trọn vẹn. Lại thêm chí thành, khẩn thiết như con nhớ mẹ thì ba pháp: Phật lực, Pháp lực, tự tâm tín nguyện công đức lực hiển hiện trọn vẹn như mặt trời rực rỡ trên không, dù có sương dày, băng đóng tầng tầng thì cũng chẳng bao lâu sẽ biến mất ngay! Q: "Nghĩ khổ địa ngục, phát Bồ Ðề tâm” là như thế nào? A: Muốn tâm chẳng tham sự việc bên ngoài chỉ chuyên niệm Phật, người chẳng chuyên muốn cho được chuyên, người chẳng thể niệm muốn cho niệm được, người chưa được nhất tâm muốn họ đắc nhất tâm v.v… cũng chẳng có cách nào áo diệu, lạ lùng, đặc biệt chi cả! Cứ lấy một chữ Chết dán chặt lên trán, phủ xuống tận lông mày, tâm thường niệm rằng: "Tôi tên là… từ vô thỉ cho đến đời hiện tại này đã tạo ác nghiệp vô lượng, vô biên. Giả sử ác nghiệp mà có thể tướng thì mười phương hư không chẳng chứa đựng hết được. Ðời trước có may mắn chi mà nay được thân người, lại được nghe Phật pháp. Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì khi một hơi thở không hít vào được nữa, quyết định sẽ phải thọ khổ nơi vạc sôi, lò than, rừng gươm, núi đao nơi địa ngục. Dù thoát được địa ngục, lại đọa trong ngã quỷ, súc sanh. Dù được làm người thì ngu si tạo nghiệp nên lại đọa lạc, trải qua kiếp số nhiều như vi trần luân hồi sáu nẻo, dù muốn xuất ly vẫn chẳng thể được”. Niệm được như thế, cầu được như trên thì ngay khi đó sẽ tu tập. Vì thế trong kinh nhắc đi, nhắc lại: "Nghĩ khổ địa ngục, phát Bồ Ðề tâm”. Ðấy chính là điều khai thị tối thiết yếu của đấng Ðại Giác Thế Tôn. Lúc niệm Phật phải thường nghĩ đến lúc chết phải đọa địa ngục thì chẳng khẩn thiết cũng sẽ tự khẩn thiết, chẳng tương ứng cũng tự tương ứng. Dùng cái tâm sợ khổ để niệm Phật chính là pháp mầu bậc nhất để thoát khổ, đó cũng là pháp mầu tùy duyên tiêu nghiệp bậc nhất. Q: Khai ngộ bên nhà Thiền khác Tín, nguyện cầu sanh ra sao? A: Người niệm Phật chẳng được lạm tu cách tham cứu của nhà Thiền vì tham cứu hoàn toàn chẳng chú trọng đến tín, nguyện cầu sanh. Dù có niệm Phật cũng chỉ chú trọng khán câu "người niệm Phật là ai?” để cầu khai ngộ mà thôi! Nếu khai ngộ mà hoặc nghiệp đã hết sạch thì có thể liễu sanh thoát tử; còn nếu hoặc nghiệp chưa tận thì chẳng thể cậy vào tự lực để liễu sanh tử. Lại vì không có tín nguyện nên chẳng thể nương vào Phật lực để liễu sanh tử. Cả tự lực lẫn Phật lực đều chẳng nhờ cậy được thì muốn thoát luân hồi có được hay chăng? Q: Niệm Phật là hướng về Phật, có nên mê tín về Quỷ đạo không? A: Người niệm Phật chẳng được bắt chước kẻ ngu làm các "Phật sự” như: đốt hình nhân thế mạng, gởi tiền kho [Âm Phủ] v.v… vì: hình nhân thế mạng chẳng phát xuất tự kinh Phật mà do người đời sau ngụy tạo; gởi tiền kho là nguyện sau khi chết làm quỷ, trữ sẵn làm của tiêu dùng trong Quỷ đạo. Ðã có ý nguyện làm quỷ thì khó vãng sanh. Nếu trót đã làm thế, hãy nên bẩm rõ với Phật: "Ðệ tử tên là… cầu vãng sanh, trước đây đã gởi tiền kho để tiêu xài trong cõi âm. Nay xin chẩn tế hết cho cô hồn” thì mới chẳng chướng ngại việc vãng sanh. Q: Ăn chay, niệm Phật. Tổ khuyên ta như thế nào? A: Người niệm Phật nên ăn chay trường. Nếu như chẳng ăn nổi thì nên giữ sáu ngày chay, hoặc mười ngày chay. Mồng tám, mười bốn, mười lăm, hăm ba, hăm chín, ba mươi là sáu ngày chay. Thêm vào đó ngày mùng một, mười tám, hăm bốn, hăm tám là thành mười ngày chay. Gặp tháng thiếu thì ăn lên ngày hôm trước. Lại trong ba tháng chay là tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín nên ăn chay trường, tạo các công đức, giảm dần dần cho đến hoàn toàn vĩnh viễn đoạn ác thì mới hợp lý. Dẫu còn ăn mặn nhưng nên mua thịt làm sẵn, kiêng hẳn sát sanh trong nhà. Q: Nguyện tránh điều ác, nguyện làm việc lành, nguyện sanh Tịnh độ. Chư Tổ có khuyên làm gì khác không? A: Niệm Phật cần nhất phải tận hết sức mình giữ đạo đức, ngăn tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, giữ tấm lòng lành, nói lời lành, làm việc tốt: việc gì mình làm được thì nhận biết đúng đắn mà làm; việc gì làm không nổi thì cũng nên phát thiện tâm hoặc khuyên người có khả năng hãy làm. Hoặc là thấy ai làm được thì sanh lòng hoan hỷ, thốt lời khen ngợi thì cũng thuộc về công đức nơi tâm và miệng. Nếu tự mình chẳng làm nổi, thấy người khác làm được lại sanh lòng đố kỵ thì thành ra tâm hạnh của kẻ tiểu nhân gian ác, quyết bị giảm phước, tổn thọ, chẳng có kết quả tốt. Hãy nên thống thiết dè chừng! Q: Hiếu hạnh của người tu niệm Phật là như thế nào? A: Người niệm Phật cần phải hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp. Lại cần phải cha từ, đối xử với mình có hết lòng hay không, ta cứ luôn tận hết sức mình, tận sức tận tâm đối với gia đình và xã hội. Như vậy gọi là thiện nhân. Thiện nhân niệm Phật cầu sanh Tây Phương, nhất định khi lâm chung liền được vãng sanh vì tâm người ấy tương hợp tâm Phật nên cảm Phật từ tiếp dẫn. Lại phải nên khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, thê thiếp, con cái, xóm giềng, bạn bè đều thường niệm Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát (mỗi ngày niệm một vạn câu Phật, rồi niệm năm ngàn câu Quán Âm. Niệm nhiều ít cứ chiếu theo đó mà gia giảm). Ðó là vì việc này có lợi ích rất lớn, nỡ nào để người sanh ra ta cùng quyến thuộc, thân hữu của ta chẳng được hưởng lợi ích này hay sao? Vả lại, khuyên người khác niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là thành tựu phàm phu thành Phật, công đức rất lớn. Ðem công đức ấy hồi hướng vãng sanh ắt sẽ mãn nguyện. Q: Công đức và phước đức khác nhau ra sao? A: Hễ tụng kinh, trì chú, lễ bái, sám hối và cứu nạn, giúp nghèo, làm các thứ công đức thì đều nên hồi hướng vãng sanh Tây Phương, tuyệt đối chẳng được cầu hưởng phước báo đời sau trong đường trời, người. Hễ có tâm ấy thì chẳng có phần vãng sanh. Nếu sanh tử chưa hết thì phước càng lớn nghiệp càng to, thêm một đời nữa khó tránh khỏi đọa trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, muốn lại được thân người, lại gặp pháp môn Tịnh Ðộ hòng thoát sanh tử thật khó như lên trời vậy! Q: Đem tâm bất thiện mà niệm Quán Âm có được như ý không? A: Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện sâu rộng, theo tiếng kêu mà cứu khổ. Nếu gặp phải các tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, nạn châu chấu - sâu rầy, ôn dịch, hạn hán, lụt lội, giặc cướp, oan gia, ác thú, độc xà, ác quỷ, yêu quái, bịnh tật do oán nghiệp, tiểu nhân hãm hại v.v… mà nếu có thể sửa lỗi làm lành, sanh tâm lợi mình, lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm, niệm niệm chẳng gián đoạn quyết sẽ được ngài từ bi che chở, chẳng có nguy hiểm, tai ách gì nữa! Nhưng nếu vẫn giữ tâm bất thiện, dù có xưng niệm thì chẳng qua chỉ tạm gieo căn lành trong đời sau, chẳng được cảm ứng ngay trong hiện thời vì Phật, Bồ Tát đều thành tựu cho thiện niệm của con người, chứ tuyệt đối chẳng thành tựu cho người ác niệm. Nếu mơ tưởng niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát để thành tựu ác sự cho mình thì nhất định chẳng được cảm ứng, chớ có sanh tâm điên đảo như thế! Q: Chư Tổ khuyên chúng ta làm gì khi gặp hiểm nạn từ túc nghiệp? A: Chỉ nên chơn thật, thiết tha niệm Phật để tự nương vào từ lực của Phật thoát khỏi binh đao, nước, lửa là những thứ do túc nghiệp tạo thành, cũng như chuyển báo nặng địa ngục trở thành báo nhẹ trong đời này. Gặp phải những tai nạn ấy thì thường ngày đã có lòng tin chơn thật, nguyện thiết tha, quyết định sẽ được Phật tiếp dẫn trong lúc ấy. Trong lúc có kinh nguyệt, nữ nhân có thể giảm bớt lễ bái, còn thì cứ niệm Phật, tụng kinh đúng như thường lệ. Phải nên thường thay, giặt vải dơ. Nếu tay chạm phải vải dơ thì nên rửa tay sạch, chớ dùng tay dơ lật kinh, thắp hương. Lúc sanh nở tuy trần truồng, bất tịnh nhưng là vì không còn cách nào khác, chứ chẳng phải tự ý buông tuồng đến nỗi ấy; nếu có thể chí thành, khẩn thiết niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ra tiếng rõ ràng thì chẳng bị đau đớn, sanh khó cũng như bị băng huyết sau khi sanh, đứa con bị các chứng kinh phong v.v… Dẫu cho khó sanh cùng cực, người đã sắp chết, bèn dạy sản phụ ấy cùng những người săn sóc chung quanh cùng cất tiếng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Người nhà tuy ở phòng khác vẫn có thể niệm giúp, quyết định chẳng đến một khắc công phu liền được sanh nở bình an. Không những chỉ không có tội lỗi gì mà còn khiến cả mẹ lẫn con gieo đại thiện căn. Nhưng không được niệm thầm trong tâm vì niệm thầm tâm lực nhỏ nhoi cho nên cảm ứng cũng nhỏ. Hơn nữa, lúc ấy cần phải dùng sức để rặn đứa bé ra, nếu niệm thầm thì rất có thể do vì nín hơi nên sẽ mắc bịnh. Q:"Ta là người niệm Phật”, luôn tự nghĩ như thế sẽ giúp ích gì? A: Một câu Phật hiệu miên miên mật mật thường luôn ức niệm. Hễ khi nào giận dữ, dâm dục, hiếu thắng, gắt gỏng v.v… vừa mới nhen nhúm thì hãy liền nghĩ rằng: "Ta là người niệm Phật, lẽ nào lại có phát khởi ý niệm này?” thì niệm vừa khởi lên liền dứt. Tập lâu ngày thì hết thảy những ý niệm khiến nhọc lòng tổn xác đều không có cách chi phát khởi được; trọn ngày được công đức bất khả tư nghị của Phật gia trì thân tâm, tôi dám bảo đảm là chẳng cần đến mười ngày đã thấy hiệu nghiệm lớn. Nếu chỉ tình cờ niệm một hai câu mà muốn thấy ngay kết quả thì là dối mình, lừa người, tuy có công đức nhưng muốn do đó mà lành bịnh thì quyết chẳng thể được! Q: Như dây đờn chẳng nên căng quá, hay chùng quá. Người niệm Phật phải nên dụng công thế nào cho được lợi ích? A: Niệm Phật ắt phải chí thành, nếu như có lúc trong tâm chợt sanh đau xót thì đó là dấu hiệu thiện căn phát hiện, nhưng chớ có nên thường như thế, nếu không ắt sẽ bị loài ma đau thương dựa. Hễ có chuyện gì thích ý chẳng được hoan hỷ quá mức, nếu không sẽ bị loài ma hoan hỷ dựa. Lúc niệm Phật mắt nên nhìn xuống, tinh thần chẳng nên căng thẳng quá mức khiến cho tâm hỏa bốc lên, rất có thể sẽ bị các bịnh vặt như đỉnh đầu nổi mụn nhọt, đau nhức v.v… Nên giữ sao cho ở mức vừa phải, lúc niệm lớn tiếng chớ nên quá sức kẻo mắc bịnh. Lần chuỗi niệm ngừa được tật lười biếng, nhưng lúc tịnh tọa chẳng được lần chuỗi, vì lần chuỗi thì ngón tay động nên tâm chẳng định, lâu ngày ắt sẽ bị bịnh. Lúc nằm chỉ nên niệm thầm bốn chữ để tránh nhiều chữ khó niệm. Nếu niệm ra tiếng thì một là chẳng cung kính, hai là dễ bị tổn khí. Q: Để tránh tâm hỏa và cảnh ma, chư Tổ khuyên những gì? A: Niệm Phật nhắm mắt dễ bị hôn trầm. Nếu chẳng khéo dụng tâm, hoặc có lúc gặp cảnh ma: Niệm Phật mà trên đầu thấy có vật xoa vỗ hoặc lôi kéo v.v… Ðấy là do lúc niệm Phật, sóng tâm tưởng hướng lên trên quá đến nỗi tâm hỏa bốc lên. Nếu sụp mí mắt xuống, hướng tâm nghĩ xuống dưới thì tâm liền chìm xuống chẳng còn bồng bềnh nữa, tâm hỏa chẳng bốc lên, căn bệnh ấy liền bị tiêu diệt. Chớ lầm tưởng đấy là công phu chứng đắc, cũng đừng sợ là ma cảnh. Chỉ chí thành nhiếp tâm mà niệm và tưởng thân mình đang ngồi hoặc đứng trên hoa sen, nhất tâm tưởng nơi hoa sen mình đang ngồi thì tướng đó sẽ tự mau hết. Nếu chẳng dám tưởng mình đang đứng hay ngồi trên hoa sen vì sợ gặp phải ma sự thì chỉ tưởng ngọn lửa tâm hỏa nằm ở dưới bàn chân thì tâm hỏa sẽ chẳng thể sanh được nữa. Q: Niệm Phật có nên mong muốn thấy Phật không? A: Thấy Phật chẳng phải dễ dàng, trước khi đạt được Nhất Tâm, tuyệt đối chẳng được manh nha ý niệm thấy Phật. Ðã đạt được Nhất Tâm thì tâm hợp với Ðạo, tâm hợp với Phật, muốn thấy liền được thấy ngay, chẳng thấy cũng trọn chẳng trở ngại gì. Nếu muốn gấp thấy Phật, tâm niệm rối bời, ý niệm muốn thấy Phật đóng cứng trong bụng dạ biến thành một căn bịnh lớn trong việc tu hành. Lâu ngày, oan gia nhiều kiếp thừa cơ nương theo tình ý vọng động ấy hiện thành thân Phật để báo oán xưa. Tâm mình không có chánh kiến, toàn thể đều thuộc về ma; một phen trông thấy liền sanh mừng rỡ. Bởi đó, ma nhập trong tim ruột, bị ma dựa phát cuồng, dẫu có đức Phật sống cũng chẳng biết làm cách nào được! Chỉ nên nhất tâm, cần gì phải so đo là thấy Phật hay không thấy Phật cơ chứ? Sau khi đạt Nhất Tâm, chẳng tự biết được lòng mình hay sao? Chẳng thấy Phật thì càng nên tăng tấn công phu; được thấy Phật thì càng nên lắng tâm chuyên tu thì trọn chẳng bị mắc lỗi lầm lạc, lại chỉ có cái lợi tăng tấn thù thắng. Q: Tâm tháo động, vọng tưởng phá hại tịnh tâm niệm Phật ra sao? A: Ðóng cửa Phương Tiện, cự tuyệt các sự duyên không cấp bách thì rất có ích. Khi bế quan dụng công nên lấy việc chuyên chú, tinh thuần chẳng hai làm chính. Nếu tâm thật sự được chuyên nhất thì tự sẽ có sự cảm thông chẳng thể nghĩ bàn. Có cảm thông thì tâm càng lại càng tinh thuần, chuyên nhất. Nói cách khác: gương sáng đặt trên đài, gặp hình liền hiện bóng, tự các hình bóng ấy lăng xăng, ăn nhằm gì đến ta? Lúc tâm chưa chuyên nhất, trọn chẳng nên dùng tâm tháo động, vọng tưởng để cầu cảm thông vì cái tâm cầu được cảm thông ấy lại là đại chướng cho việc tu đạo. Hơn nữa, vì tâm ấy tháo động, vọng tưởng mong ngóng hướng ra ngoài rất có thể khiến cho ma sự khởi lên phá hoại tịnh tâm. Gần đây, người tu hành hay bị ma dựa đều là do tâm tháo động, vọng tưởng cầu đạt cảnh giới thù thắng. Ðừng nói là cảnh ma, dù thật sự là thắng cảnh đi nữa nhưng nếu cả một đời tâm cứ tham chấp, hoan hỷ thì sẽ bị tổn hại, chẳng được lợi ích, huống hồ cảnh ấy chưa chắc đã là thắng cảnh ư? Nếu như người ấy có công năng hàm dưỡng, không có tâm tháo động, vọng niệm, thấy các cảnh giới cũng hệt như chẳng thấy, chẳng sanh hoan hỷ, tham nhìn, hoảng sợ, kinh nghi thì đừng nói là thắng cảnh hiện đã có ích mà dù ma cảnh hiện cũng vẫn có ích. Vì sao vậy? Chẳng bị ma chuyển thì liền có thể tăng tấn hướng thượng vậy. Q: Hồi hướng công đức niệm Phật cho cô hồn, oan gia được vãng sanh có phải là điều khẩn thiết không? A: Bóng đen chẳng phải là hình bóng của Phật, Bồ Tát, mà cũng chẳng phải hình bóng của oan gia đối đầu hiển hiện. Vì nếu Phật, Bồ Tát hiện ra thì sẽ thấy được mặt, mắt… rõ ràng; oán gia sẽ hiện tướng đáng sợ. Tướng bóng đen ấy chính là cô hồn có duyên với mình trong đời trước mong nhờ sức niệm Phật, tụng kinh được sanh vào đường lành. Khi hồi hướng sau khóa tụng hãy nên chuyên vì họ hồi hướng để họ được tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện căn, vãng sanh Tây Phương khiến họ được lợi ích, chẳng uổng công họ đã một phen khổ sở hiện hình. Con người trong những đời trước có nghiệp nào là chẳng tạo. May được nghe Phật pháp thì hãy nên nhận chân tu trì, mới mong tiêu trừ túc nghiệp, siêu độ oan gia. Nếu [oan gia] khó bề tháo gỡ thì hãy nên phát Bồ Ðề tâm và thành tâm siêu độ thì không chi là chẳng giải oán kết được! Q: Do đâu niệm Phật bị nghẹn hơi, làm sao để chấm dứt? A: Niệm Phật mà nghẹn hơi thì chẳng phải là do thể chất yếu đuối mà chính là vì nghiệp chướng khiến ra như vậy, hãy nên khẩn thiết, chí thành niệm. Nếu như niệm chẳng ra thì trong tâm hãy nên thường tưởng nhớ; khi nào niệm được thì bèn dùng miệng niệm; khi nào niệm không được thì tâm nghĩ đến, tâm nhớ đến. Lâu ngày nghiệp ấy sẽ tiêu. Từ đây về sau làm gì nên lưu tâm, phải ăn ở cho có hậu. Ăn ở có hậu thì được phước, bạc bẽo sẽ chẳng được phước. Nếu lại còn khắc nghiệt, hiểm độc, gian xảo hơn thì khác nào như đảnh núi cao vót trơ trọi, mưa dầm cách nào cũng chẳng thấm thì cây cỏ làm sao sanh trưởng được! |
Phật Học Vấn Đáp - Kinh Niệm Phật Ba La Mật
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét